Mỗi thầy cô luôn mong muốn học sinh của mình làm được bài thi và có kết quả học tập tốt nhất, chính vì thế luôn giới thiệu cho các em các kỹ năng làm bài làm sao cho hiệu quả nhất
1. Kỹ năng làm bài cho câu hỏi tái hiện kiến thức
Học sinh cần chú ý các phần
kiến thức giao nhau của hai chương trình (cơ bản và nâng cao). Đối với câu hỏi
yêu cầu tái hiện kiến thức, phải nắm chắc những kiến thức khái quát về
giai đoạn, tác giả văn học cũng như những kiến thức cụ thể trong những bài học
về tác phẩm văn học Việt Nam (hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm hoặc đoạn trích...).
Chương trình Ngữ văn lớp 12
hiện nay có nhiều đổi mới. Một số bài được lược bỏ như Bên kia sông Đuống, Mùa
lạc, Tiếng hát con tàu, Các vị La Hán chùa Tây Phương… Thay vào đó là các tác
phẩm mới: Chiếc thuyền ngoài xa, Ai đã đặt tên cho dòng sông? Nguyễn Đình Chiểu
- ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc… Để nắm vững kiến thức, trước hết học
sinh phải hệ thống lại những tác phẩm văn học Việt Nam đã học. Hệ thống hóa kiến
thức có thể theo nhiều cách, và dựa vào tiêu chí khác nhau.
Phân theo thể loại gồm có: thơ (bài thơ
Tây Tiến, Việt Bắc, Đất nước…), văn xuôi (truyện ngắn Vợ nhặt, Vợ chồng
A Phủ, tùy bút Người lái đò sông Đà…) và kịch (trích đoạn vở kịch nói
của Lưu Quang Vũ: Hồn Trương Ba, da hàng thịt).
Phân theo chủ đề như: tác phẩm chủ nghĩa anh hùng
cách mạng (Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình…) và chủ nghĩa
nhân đạo (Vợ nhặt, Chiếc thuyền ngoài xa…). Phân theo thời gian gồm giai
đoạn kháng chiến chống Pháp, giai đoạn chống Mỹ cứu nước và thời kỳ đổi mới…
Không chỉ hiểu tác phẩm mà các em phải nắm vững thông tin về tác giả, nhớ
đặc điểm chính của nhà văn, nhà thơ như biến cố cuộc đời, phong cách sáng tác.
Về hoàn cảnh sáng tác, học sinh phải nắm bắt được bối cảnh lịch sử ra đời
của tác phẩm (như truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân gắn với nạn đói năm 1945).
Ngoài ra, học sinh không thể bỏ qua chủ đề của tác phẩm vì đó là căn
cứ quan trọng để phân tích giá trị tác phẩm, thái độ và cách giải quyết đề tài
của nhà văn.
Một nhược điểm của
học sinh là ít đọc tác giả, tác phẩm hay nói đúng hơn là không biết đọc tác phẩm
mà chỉ chăm chăm nghĩ đến... bài mẫu trong khi không phải bài văn mẫu nào cũng
tốt cả. Đây là cách học ngọn, chưa tự sống và cảm thụ tác phẩm nên chỉ tiếp thu
một cách bị động. Học văn phải cảm thụ ngay từ trong cách hiểu của mình thì mới
có khả năng tự phân tích bài viết.
Đọc và hiểu
tác phẩm như thế nào cho hiệu quả nhất? Phải nắm được hoàn cảnh ra đời của tác
phẩm đó, tâm trạng, tâm thế , ý đồ của tác giả. Phải nắm được mạch của tác phẩm
và hình tượng trung tâm. Đặc biệt là thuộc những hình ảnh hay.
Trong văn
xuôi: Phải nắm được cốt chuyện và tình huống. Đặc biệt là phải nắm nhân
vật để phân tích. Vì “đơn vị” cơ bản nhất của văn xuôi tự sự là nhân vật.
Nhà văn bao giờ cũng truyền tải nội dung, chủ đề quan niệm nhân sinh qua hệ thống
nhân vật, tương quan giữa các nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính. Phải biết nắm
được đặc điểm này thì mới có một dàn bài chi tiết làm bài. Ngoại hình, đặc tả,
ngôn ngữ nhân vật, đời sống nội tâm nhân vật, hành động cử chỉ gây ấn tượng của
nhân vật...Nhớ cốt chuyện, tình huống, nhân vật trung tâm, những bước ngoặt của
dòng cốt truyện, quan trọng nhất là nắm nhân vật, quan hệ của nhân vật, chính,
phụ, phản diện, chính diện, ngôn ngữ, cử chỉ nhân vật. Phân tích nhân vật phải
nắm tính cách, số phận của nhân vật. Học sinh phải nhớ chi tiết cụ thể để
có chất liệu làm bài. Phải có ý thức đọc để làm bài, đọc phải nhớ, phải có định
hướng.
Riêng phần kiến thức về
ba tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài ở kỳ thi tốt nghiệp THPT, học
sinh cần nắm được những nét chính về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, phong
cách sáng tác của tác giả (vì đề thi thường kiểm tra phần này) và những
kiến thức về tác phẩm (tóm tắt tác phẩm, đoạn trích, giá trị nội dung - nghệ
thuật, các chi tiết tiêu biểu...).
Thông thường học sinh sợ
nhất là câu tái hiện kiến thức vì phải học và ghi nhớ nhiều kiến thức. Tuy
nhiên, nếu không làm được câu này thì rất có thể bài văn không đạt điểm trung
bình. Sẽ không quá nặng nề nếu học sinh nắm được phương pháp và cách thức làm
bài.
Câu trả lời tái hiện
kiến thức cần được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, có thể gạch đầu dòng chứ không
nhất thiết phải trình bày thành một đoạn văn.
2. Kỹ năng làm bài văn nghị luận xã hội
Đối với câu yêu cầu
học sinh viết bài văn nghị luận xã hội ngắn, cần chú ý dung lượng (khoảng 400 từ).
Thực tế cho thấy, đây là một loại bài khó đối với học sinh, nhiều học sinh còn
khá lúng túng đối với dạng đề này. Học sinh cần xác định ngay từ đầu những bước
(thao tác) cơ bản của dạng đề nghị luận xã hội. Đầu tiên cần làm rõ vấn đề
nghị luận (qua giải thích, phân tích, chứng minh) rồi mới bàn luận (khẳng định
ý kiến, bàn luận mở rộng, liên hệ thực tế...). Dẫn chứng thực tế cho dạng đề
này là cần thiết nhưng không nên lạm dụng, tránh tình trạng dài dòng, lan man.
Bài nghị luận xã
hội có hai dạng: Nghị luận (bàn bạc) về một tư tưởng, đạo lý. Nghĩa
là trao đổi, thảo luận về một ý kiến, một quan điểm. Ví dụ: Suy nghĩ về
quan điểm “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” hay “Học thầy không tày học bạn” hoặc
“Hạnh phúc là đấu tranh”... Dạng thứ hai là nghị luận về một hiện tượng đời
sống. Yêu cầu người viết trình bày nhận thức, quan điểm về những hiện tượng đáng
lưu ý, “có vấn đề” trong đời sống. Ví dụ suy nghĩ về hiện tượng học sinh nữ
đánh nhau; suy nghĩ về hiện tượng nhiều bạn trẻ đi học ở nước ngoài không trở về
Việt Nam làm việc; về hiện tượng game online trong giới trẻ…
Dạng thứ nhất: Nghị luận về tư tưởng, đạo lý, cấu
trúc bài làm luôn có ba phần:
- Giải thích, chứng minh vấn đề cần nghị luận
- Bàn luận: ý nghĩa, mặt đúng, mặc tích cực; mặt tiêu cực, cần
bổ sung…
- Bài học nhận thức và hành động: Nên suy nghĩ thế
nào, hành động ra sao, liên hệ bản thân.
Dạng thứ hai: Nghị luận về hiện tượng đời sống, cấu
trúc cũng có ba phần:
- Nêu thực trạng của hiện tượng: Hiện tượng đó phản ánh điều
gì.
- Giải thích nguyên nhân hiện tượng.
- Đề xuất giải pháp, phương hướng khắc phục, cách ứng xử.
Nhiều học sinh mất điểm vì viết lan man,
bài dài nhưng không có ý. Nếu trình bày đúng cấu trúc như trên sẽ không bị chệch
hướng và dễ đạt điểm cao. Bài nghị luận xã hội người viết có quyền trình bày
quan điểm, tư tưởng, kinh nghiệm sống riêng, song để thuyết phục được người đọc
thì bài văn bao giờ cũng phải đi theo một mạch tư duy sáng rõ, mạch lạc.
Muốn làm tốt kiểu bài nghị luận xã
hội, học sinh nên quan tâm đến những vấn đề xã hội, những quan niệm về tư tưởng,
hạnh phúc, tình yêu, tình bạn…và tạo cơ hội tranh luận đúng sai, giải thích
nguyên nhân, nêu quan điểm, giải pháp. Lâu dần sẽ rèn luyện khả năng nhận thức
vấn đề nhanh, tranh biện sắc sảo, thuyết phục.
Đối với bài văn nghị luận
xã hội, ngoài việc phải thu thập thông tin, đọc nhiều để có kiến thức xã hội,
học sinh cần phải nhớ bố cục của từng dạng bài nghị luận (về một tư tưởng
đạo lý hay một hiện tượng đời sống). Khi đọc đề, phải xác định ngay đề thuộc
dạng nghị luận nào. Từ đó viết dàn ý sơ lược theo bố cục của dạng đề đó ra
giấy nháp, cân nhắc kỹ để chắc chắn không lạc đề, không sai bố cục, triển khai
đúng yêu cầu rồi mới viết. Những lỗi học sinh thường mắc phải là không triển
khai bài văn đúng, đủ thao tác do không lập dàn ý trước dẫn đến bài văn sơ sài,
thiếu ý, bố cục lộn xộn.
3. Kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học
Học sinh chú ý các dạng đề
nghị luận văn học (về tác phẩm - đoạn trích thơ, văn xuôi; nghị luận về một ý
kiến bàn về văn học). Cần thể hiện trong bài làm những hiểu biết khái quát về
tác giả, tác phẩm (nên để ở phần đầu của bài viết) cũng như đánh giá, nhận xét,
nâng cao vấn đề (nên để ở cuối bài viết).
Điều học sinh phải chú ý là đề thi
sẽ không hỏi một vấn đề lớn trong một văn bản mà có thể chỉ hỏi một ý nào đó
nhưng đòi hỏi học sinh vẫn phải nắm chắc văn bản mới làm được ý nhỏ trong
văn bản đó. Ví dụ, trước kia đề thi có thể hỏi: Phân tích nhân vật Mỵ hay yêu cầu
thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm nhưng nay có thể chỉ hỏi một
ý nhỏ như phân tích tâm trạng của nhân vật Mỵ khi cởi dây trói cho A Phủ hay
trong đêm tình mùa xuân. Xin nhắc lại: việc đọc kỹ văn bản rất quan
trọng.
Ở bài nghị luận văn học, phải
thật sự hiểu và cảm được văn bản tác phẩm. Làm văn là trình bày những hiểu biết
của mình về những vấn đề của tác phẩm, làm sao cho người đọc thấy được cái hay,
cái đẹp và những vấn đề tư tưởng mà thông qua tác phẩm nhà văn, nhà thơ muốn đề
cập. Vì thế, phải đọc kỹ văn bản văn xuôi, ghi nhớ những dẫn chứng cần thiết;
thơ thì phải thuộc nằm lòng, không thuộc không thể cảm được thơ.
Học tốt môn văn không
thể một sớm một chiều mà phải có quá trình và ôn luyện thường xuyên. Nắm vững từng
vấn đề tác phẩm, hiểu được tư tưởng mà tác giả đề cập... Tuyệt đối không học
thuộc lòng bài văn mẫu. Bởi lẽ “mẫu” không phải là “mẫu mực” và cũng không thể
nhớ hết. Một điểm nữa học sinh cần lưu ý là tất cả các hệ thống bài văn mẫu
bán rộng rãi trên thị trường thường phân tích từ đầu đến cuối một tác phẩm nhưng
khi đi thi đề thi chỉ hỏi một ý. Hơn nữa đề thường rất đa dạng, đòi hỏi học
sinh phải tư duy, phải biết lập dàn ý sao cho phù hợp. Chỉ nên đọc văn mẫu trên
tinh thần tham khảo để có thêm tư liệu, học cách triển khai, diễn đạt và làm
giàu cho vốn ngôn ngữ của mình. Và chỉ đọc sau khi đã nắm kỹ nội dung kiến thức
cơ bản mà mình được học, tránh sa đà, học theo sự cảm nhận của người khác.
Trước khi bắt tay
vào làm bài văn, nhất thiết phải lập dàn ý đại cương đề hình dung hệ thống lập
luận (luận điểm, luận cứ, trình tự sắp xếp các ý...).
Để đáp ứng được yêu cầu
của đề thi, khi làm bài, cần vận dụng kiến thức văn học sử, lý luận văn học vì
đây là kiến thức công cụ giúp học sinh kiến giải, vận dụng... khi đứng trước một
hiện tượng văn học.
Kiến thức hỏi trong bài
thi có thể không khó nhưng kỹ năng khó hơn vì vậy nếu không rèn luyện để viết
bài ngắn và xúc tích nhưng đủ ý thì học sinh sẽ không thể đạt được điểm cao.
Phải biết bố trí hợp lý
thời gian hoàn thành cho từng câu. Bố trí thời gian và lượng viết cho cân đối.
Không nên quá sa đà vào từng câu, phải biết mức độ yêu cầu từng câu.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét