Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

TIẾNG GỌI ĐÒ

Khi còn rất trẻ, tôi và một người bạn, cũng là giáo viên, thường cùng nhau rong chơi đây đó vào lúc chừng 7, 8 giờ tối, sau khi ăn tối xong. Chúng tôi thường đi qua đò ngang Triệu Độ, hoặc đò ngang Chợ Hôm Ái Tử sang Đâu Kênh.


Những khi đến bến vào giờ mà đò ngang đã nghỉ lâu rồi, hai chúng tôi phải vác hai chiếc xe đạp trên vai lội ra giữa dòng và thay nhau đưa hai tay lên miệng chụm lại làm loa gọi to hết cỡ: “BỚ ĐÒ!” Nhiều hôm trời ngược gió, chúng tôi gọi khản cả cổ, không biết bao nhiêu tiếng bớ đò… cuối cùng ông lái đò cũng nghe được và chống chèo sang đón chúng tôi. Biết ông thích rượu, thỉnh thoảng chúng tôi lại tặng ông thêm một chai rượu gạo nguyên chất. Nhiều lần như thế, chúng tôi trở thành khách quen, có những khi đêm hôm khuya khoắt mà nghe được tiếng gọi đò, ông cũng chịu khó sang đón chúng tôi. Thử tưởng tượng, vào một đêm ba mươi tối thui, giữa bến vắng đìu hiu, hai thằng tôi vốn sợ ma, tiếng gọi đò cộng hưởng âm thanh dội trở lại nghe sợ lắm! Lúc đó hai câu thơ của thi sĩ Quách Tấn ám ảnh trong đầu: “Đời tan loãng như mây chìm bóng mộng/ Tiếng gọi đò lạnh toát giữa hư không”. Chúng tôi sợ và lạnh toát da gà, cứ mong sao cho đò mau đến mà qua bờ bên kia. “Ông lái đò giờ đây già yếu lắm!”, nhưng dù có giờ Tý canh ba, ông vẫn không phàn nàn, ông hiểu và cảm thương lữ khách chờ đò! Không ai muốn đi cái giờ ma đưa lối, quỷ dẫn đường; nhưng vì công việc quan trọng họ phải đi, vậy nên ông lái đò chưa bao giờ để khách lỡ chuyến.
Qua đò ngang đêm hôm cực khổ như vậy mà hai chúng tôi siêng đi lắm. Đi thăm nhà học trò thì ít nhưng đến viếng ngôi chùa làng thì nhiều, không kể chi đêm rằm hay mồng một. Đôi khi ông lái đò cũng thắc mắc không hiểu tại sao chúng tôi ở gần chùa Sắc Tứ mà sang bên này đi chùa thường xuyên như vậy? Tất nhiên là cũng có lý do.

Ông lái đò của tôi làm tôi nhớ tới ông lái đò của nhà thơ Rabindranath Tagore. Trong một buổi chiều nọ, đò thì chở nặng đầy khách, nhưng vẫn còn một vị khách trên bờ vẫy gọi, ông lái đò cảm thương ghé bến: “Hãy vào ghé tạm nơi đây, em lẻ loi mang vài bó lúa. Thuyền tôi chật nặng lắm rồi, sao nỡ để em đi không với gọi. Người non trẻ, thân em thướt tha gầy guộc, mắt tươi duyên hé nở nụ cười, và chiếc áo em mang sậm màu mây trời nặng nước. Khách sẽ về từng bến. Khách sẽ về từng nhà. Ngồi tạm mũi thuyền tôi giây lát rồi cứ việc lên bờ, không ai níu giữ em đâu. Em về đâu? Nơi nao? Cất những bông lúa óng vàng, tôi cũng chẳng cần gạn hỏi. Khi hết chuyến dừng chèo kéo buồm neo thuyền ngưng nghỉ, tôi mới ngồi một mình tự hỏi lúc chiều buông: Em về đâu? Nơi nao? Cất những bông lúa óng vàng?”(Lover’s Gift – R. Tagore. Đỗ Khánh Hoan dịch). Ông lái đò của Tagore thật dễ thương, hẳn đã góp phần mang lại cho ông giải Nobel Văn chương vào năm 1913.
Cũng còn một tiếng gọi đò khác có mặt trong giải Nobel Văn chương năm 1946. Tiếng gọi đò ấy xuất hiện trong tác phẩm Siddhartha của Hermann Hesse, một nhà văn và cũng là thi sĩ, người Đức. Đây là cuốn tiểu thuyết ông viết về cuộc đời của vị sa-môn Siddhartha, phỏng theo cuộc đời của Đức Phật Thích-ca. Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn tha thiết đi tìm sự giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt.
Bản dịch của Phùng Khánh, tức cố Ni trưởng Thích nữ Trí Hải, khi đem in năm 1965, Nhà Xuất bản Lá Bối đã xin đổi tựa sách là: Câu chuyện dòng sông. Nghe cũng phù hợp với nội dung sách, nên vị cố Ni trưởng đã đồng ý. Có lẽ ai đã đọc Câu chuyện dòng sông rồi thì cũng sẽ đồng ý với cái tựa rất hay này, mặc dù cái tựa gốcSiddhartha là tên của nhân vật chính, vị sa-môn trong câu chuyện.
Có một dòng sông rất thơ mộng trong câu chuyện giống như dòng sông Ni-liên-thuyền nổi tiếng ở xứ Phật Ấn Độ, Đức Phật đã ngồi tham thiền nhập định suốt 49 ngày dưới cội cây bồ-đề bên dòng sông Ni-liên-thuyền này và Ngài đã trở thành một Bậc Giác Ngộ. Dòng sông trong truyện của H. Hesse chỉ là dòng sông hư cấu trong một câu chuyện hư cấu có chủ ý. Nhân vật chính, vị sa môn Siddhartha, tu khổ hạnh lâu năm trong rừng sâu không thể giải thoát, sa-môn xuống núi gọi một chiếc đò ngang qua sông để về xứ phồn hoa đô hội may ra tìm được con đường hạnh phúc vượt thoát phiền não khổ đau, nhưng sau những cuộc truy hoan kiếm tìm hạnh phúc đi tận hết hang cùng ngõ hẽm của đô thành cũng chưa tri kiến Niết-bàn. Vị sa môn tuyệt vọng quay lại ngồi trên bến đò năm xưa kỷ niệm lúc xuống núi trở về. Lúc đó, ông lái đò năm xưa đã quá vãng, người con trai đã thay cha chèo đò ngang trên khúc sông này. Và đây là phút giây kỳ diệu thiêng liêng nhất, tiếng gọi đò đã làm cho sa môn Siddhartha bừng tỉnh.
Tiếng gọi đò – con đò hay con thuyền Bát-nhã của Như Lai sẽ đưa ta cập bờ bến giác. Nhưng ta phải tự thắp đuốc lên mà đi theo đúng hướng ngón tay chỉ của Ngài, chắc chắn ta sẽ đến bến bờ an vui hạnh phúc. Tiếng gọi đò làm cho ông lái đò và khách đi đò là ta tỉnh thức. Tỉnh thức để lấy tấm lòng son mà đối xử tử tế với nhau.
*     *     *
Tôi có một cuộc điện thoại đặc biệt. Tôi nói đặc biệt với tôi vì người tôi nói chuyện đang đứng ở bên bến đò Đâu Kênh, chuẩn bị lên đò ngang qua bến Chợ Hôm. Cô ấy là cô giáo dạy tôi thuở ấu thơ.
“Cô đang chuẩn bị qua bến đò Chợ Hôm đây, làm sao em có thể đưa cô ra nhà em?”.
“Dạ! Sẽ có một đứa cháu tên là Hoàng đến đón cô”.
Hơn bốn mươi năm cô ra định cư ở nước ngoài, bây giờ về thăm quê cô lại được đi đò ngang thật là thú vị, bến đò quê ngoại nơi cô sinh ra, nơi chôn nhau cắt rốn, cô đứng trên đò có đủ mọi cảm xúc vui buồn, cô bỗng khóc sướt mướt như mưa, nước mắt cô rơi hòa xuống dòng sông quê vị mặn nghĩa tình.
Cả tỉnh này người ta làm cầu nhiều rồi, may sao còn lại cái bến đò Chợ Hôm – Đâu Kênh, để còn nghe tiếng gọi đò đêm ba mươi, đêm mùa thu lá rụng gió heo may và mưa rả rích buồn thúi ruột thúi gan, vẫn còn có khách đứng gọi mãi, gọi hoài… bớ đò!
Chợ Hôm nằm sát bến đò, ban đêm vắng vẻ, vậy mà đến sáng, chợ lại nhộn nhịp một phiên chợ quê mang tên “chiều hôm”, nhưng lại nhóm họp bán mua tấp nập vào buổi sáng sớm! Trong đình chợ có gánh bún của chị Hoa nổi tiếng ngon, rẻ, một tô chỉ có bảy ngàn, giá chỉ có nửa so với ngoài phố. Đặc biệt một tháng có bốn ngày: ba mươi, mồng một, mười bốn, rằm là chị nấu bún chay. Chị Hoa nói, toàn là khách bà con nông dân làm ruộng, nếu bán đắt lấy tiền đâu họ ăn.
Sáng mai rằm, tôi sẽ mời cô giáo đi ăn bún chay đặc biệt ngon của chị Hoa ở chợ Hôm. Cô đã dành cho lũ học trò chúng tôi hết một ngày vui trọn vẹn, tối nay tôi sẽ đưa cô về quê ngoại cô ở Đâu Kênh, nhưng không phải qua đò ngang, mà bằng taxi đi vô Ái Tử qua cầu An Mô vòng qua. Ngồi trên taxi, tôi lắng nghe tiếng chuông trống Bát-nhã của chùa Sắc Tứ và xa xa về phía bến Đâu Kênh như có tiếng ai gọi “Bớ đò!”. •

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét